Loạt ba bài viết của tôi về Diemist
Nguyễn Đức Hiệp đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ bạn đọc. Số lượt truy
cập tăng mạnh, bài sau nhiều hơn bài trước. Số lượt bạn đọc liên hệ với
tôi cũng như like bài viết, like trang cũng đều tăng. Trước sự ủng hộ
đó, tôi dự định sẽ tiếp tục loạt bài hộ pháp này.
Tôi
không viết nhiều bài đến thế về một con người, dù họ tốt hay xấu, nhưng
tôi cần viết rõ về hiện tượng bài xích nói xấu Phật giáo Việt Nam bằng
một hình thức tương đối mới. Diemist Nguyễn Đức Hiệp là một trong số đó,
khi viết về anh ta, anh ta lại nghĩ là tôi quan tâm đến cá nhân anh
ta.
Mục tiêu bài xích nói xấu ác ý đối với Phật giáo Việt Nam đã có diễn tiến nhiều trăm năm
Ngay
khi mới truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, mục tiêu của tôn giáo đến từ
phương Tây là bóc gỡ tôn giáo truyền thống ra khỏi đời sống tâm linh
người Việt Nam. Các phương tiện truyền thông cơ bản lúc bấy giờ là sách
vở, diễn thuyết công cộng đã được sử dụng.
Hiện nay chúng ta còn đọc được những lời lẽ bài xích đạo Phật của Alexandre de Rhodes, rất hung hãn, dữ tợn. Quá trình truyền đạo tại Việt Nam nhiều trăm năm sau đó diễn ra song song với quá trình công kích, triệt hạ Phật giáo Việt Nam là một khía cạnh tất yếu trong việc cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Đó là bước đi mở đường cần thiết, dọn dẹp mảnh đất để ở đó diễn ra việc cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Việc bài xích nói xấu Phật giáo Việt Nam càng mạnh mẽ bao nhiêu, môi trường cải đạo càng thuận lợi bấy nhiêu.
Hiện nay chúng ta còn đọc được những lời lẽ bài xích đạo Phật của Alexandre de Rhodes, rất hung hãn, dữ tợn. Quá trình truyền đạo tại Việt Nam nhiều trăm năm sau đó diễn ra song song với quá trình công kích, triệt hạ Phật giáo Việt Nam là một khía cạnh tất yếu trong việc cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Đó là bước đi mở đường cần thiết, dọn dẹp mảnh đất để ở đó diễn ra việc cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Việc bài xích nói xấu Phật giáo Việt Nam càng mạnh mẽ bao nhiêu, môi trường cải đạo càng thuận lợi bấy nhiêu.
Từ đầu thế
kỷ XX, Phật giáo Việt Nam đã bước đầu nhận thức được diễn biến cải đạo
tín đồ Phật giáo Việt Nam với 2 quá trình song song như đã nói. Vì vậy,
công cuộc chấn hưng Phật giáo với sự đồng thuận cao đã được tiến hành
ngay từ thập niên 1920. Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo, mâu thuẫn
tôn giáo tại Việt Nam do các thế lực tôn giáo và chính trị gây ra đã
được nhận diện và đi đến đỉnh điểm mâu thuẫn vào năm 1963.
Ở
miền Nam, từ năm 1964, việc công kích, bài xích Phật giáo đã trở nên
tinh vi hơn. Người ta ít nhắm vào đức Phật và giáo pháp của ngài, mà tập
trung nhằm vào tăng đoàn, một tập thể tu sĩ hình thành tương đối lỏng
lẻo, ít có tuyển chọn nghiêm ngặt, đương nhiên không thể tránh khỏi
những hạn chế.
Trên
các bục giảng tôn giáo, người ta ít nói đến đạo Phật đối lập với các
tôn giáo phương Tây, mà nói đến “mê tín dị đoan” và những người “hành
nghề mê tín dị đoan”, “thầy cúng” như một sự ám chỉ hướng vào tín ngưỡng
tôn giáo truyền thống của người Việt một cách chung chung.
Tuy
nhiên, vẫn có có những điểm nóng chế tác riêng để hướng vào Phật giáo,
như trường hợp Huệ Nhật, một tu sĩ Phật giáo cải đạo. Những người khai
thác Huệ Nhật sử dụng mọi phương thức truyền thông, từ tòa giảng cho đến
những cuộc gặp riêng, gặp nhóm. Trong những buổi gặp riêng, lời lẽ của
Huệ Nhật không khác gì lời lẽ trên một số trang facebook hiện nay, bịa
đặt, xảo trá, hướng vào các nhà lãnh đạo Phật giáo và chư tăng ni.
Trên phương tiện truyền thông đại chúng, thì có quyển sách “Từ áo cà sa đến thập tự giá”. Quyển sách kể về môi trường áo cà sa theo kỹ thuật “lời chứng”, tất nhiên nhằm vào tăng đoàn Phật giáo. Cho nên, có thể nói, công kích nhằm vào tu sĩ Phật giáo đã là một khuôn mẫu hành động quen thuộc của những kẻ bài xích, công kích Phật giáo. Đối với trường hợp Huệ Nhật, không nên chỉ nhìn thấy một con người này, mà cần nhìn thấy cả một bộ máy phía sau, gồm những người tổ chức, đạo diễn, hưởng ứng, cổ võ hoạt động của Huệ Nhật trong mấy mươi năm liên tục công kích, triệt phá Phật giáo Việt Nam, tạo môi trường cho việc cải đạo.
Trên phương tiện truyền thông đại chúng, thì có quyển sách “Từ áo cà sa đến thập tự giá”. Quyển sách kể về môi trường áo cà sa theo kỹ thuật “lời chứng”, tất nhiên nhằm vào tăng đoàn Phật giáo. Cho nên, có thể nói, công kích nhằm vào tu sĩ Phật giáo đã là một khuôn mẫu hành động quen thuộc của những kẻ bài xích, công kích Phật giáo. Đối với trường hợp Huệ Nhật, không nên chỉ nhìn thấy một con người này, mà cần nhìn thấy cả một bộ máy phía sau, gồm những người tổ chức, đạo diễn, hưởng ứng, cổ võ hoạt động của Huệ Nhật trong mấy mươi năm liên tục công kích, triệt phá Phật giáo Việt Nam, tạo môi trường cho việc cải đạo.
Trong
việc công kích, bài xích Phật giáo nhằm vào mục tiêu triệt hạ tôn giáo
truyền thống của dân tộc, các tôn giáo đến từ phương Tây có chung một
chiến tuyến, tuy bề ngoài có vẻ chỉ phối hợp hành động. Họ có cùng nhận
thức rất rõ ràng rằng làm tu sĩ Phật giáo tai tiếng thì đương nhiên hệ
quả là sự sụt giảm ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam đối với quần chúng.
Sự sụt giảm ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam trong quần chúng chính là
mội trường cải đạo lý tưởng và cần thiết. Vì vậy, đây là một diễn tiến
liên tục, tận dụng mọi cơ hội.
Trong
khi đó, từ sau 1975, Phật giáo Việt Nam ngày càng tỏ rõ ít quan tâm hơn
đến hoạt động cải đạo tín đồ Phật giáo. Một phần do có lẽ vì các tôn
giáo phương Tây không còn nắm các phương tiện thông tin đại chúng trong
một thời gian dài. Do đó, có vẻ như sự công kích, bài xích Phật giáo có
vẻ lắng dịu. Thực ra không phải. Đây chính là thời kỳ mà Huệ Nhật hoạt
động mạnh. Phía Phật giáo cũng thường đơn giản, hiền hậu, thường ít suy
nghĩ sâu xa, cho nên vấn đề không được nhìn nhận một cách đầy đủ toàn
diện.
Truyền thông thế hệ F và việc tăng cao hoạt động công khai, bài xích Phật giáo Việt Nam nhằm mục tiêu cải đạo
Truyền
thông thế hệ F được dùng để chỉ thời kỳ facebook phát triển. Trước sự
xuất hiện của internet, với web và facebook, cục diện truyền thông tôn
giáo đã có chuyển biến.
Truyền
thông internet phục vụ cho việc cải đạo, thì nó ắt phải đẩy mạnh công
kích, bài xích Phật giáo Việt Nam theo khuôn mẫu cổ điển đã có. Tuy
nhiên, web và blog khiến cho hoạt động cải đạo có thể chia hẳn ra làm
hai. Người đi truyền đạo có thể không còn nhất thiết phải là người đứng
ra công kích bài xích Phật giáo. Người bài xích, công kích đạo Phật có
thể đóng giả vai trò khác đi, không trong tư cách người truyền đạo mà
chỉ đơn thuần làm công việc có thể dưới vỏ bọc làm trong sạch Phật giáo,
hay tiếp cận vấn đề từ khía cạnh lịch sử, không vị lợi cho tôn giáo
nào.
Việc tách hẳn
ra hai chiều kích như thế khiến cho việc che dấu động cơ tôn giáo, ngụy
trang mâu thuẫn tôn giáo trong hoạt động bài xích, đả kích Phật giáo trở
nên tinh vi, khéo léo hơn. Bài viết này nhằm chỉ ra rằng về thực chất
bài xích, công kích Phật giáo, triệt hạ uy tín Phật giáo, nhằm mục tiêu
gây tổn thương cho hình ảnh Phật giáo cũng vẫn nằm trong hoạt động cải
đạo tín đồ Phật giáo, là một công đoạn cần thiết cho việc cải đạo. Thực
chất, bài xích, công kích Phật giáo cũng nhằm mục tiêu cải đạo, đó đều
là hoạt động cải đạo, dù là nấp dưới danh nghĩa phê phán mặt tiêu cực
trong đạo Phật.
Để
lý giải về Diemist Nguyễn Đức Hiệp, cần hiểu được đặc điểm cơ bản về mặt
lý luận này. Thấy được yếu tố cải đạo trong hành vi của Diemist Nguyễn
Đức Hiệp chúng ta sẽ dễ dàng lý giải được những hiện tương tương tự,
tổng kết thực tiễn, từ đó rút ra những nghiên cứu lý luận cần thiết để
đối phó.
Mục tiêu trên hết của
bất kỳ Diemist nào cũng đều là cải đạo tín đồ Phật giáo Việt Nam. Ngô
Đình Diệm, Ngô Đình Thục, Ngô Đình Nhu và vợ, Ngô Đình Cẩn đều là những
kẻ cải đạo tín đồ Phật giáo quyết liệt nhất và dẫn tới đỉnh điểm mâu
thuẫn tôn giáo vào năm 1963. Diemist (những kẻ theo Diệm) nào thì cũng
đều có chung mục tiêu tối cao đó. Dù làm nhiệm vụ gì, công kích, bài
xích tôn giáo truyền thống là Phật giáo hay tích cực truyền bá cho tôn
giáo mới từ phương Tây, tất cả Diemist đều vì mục tiêu tối cao là cải
đạo tín đồ Phật giáo.
Diemist
Nguyễn Đức Hiệp và những trường hợp tương tự có thể đều được xác định
là không hành động riêng lẻ, mà đều có sự phân công. Trên từng mảng lòng
tin Phật giáo mà Nguyễn Đức Hiệp và các Diemist ra sức phá vỡ, những
người cải đạo đi sau sẽ khai thác những mảng vở lòng tin đó, trồng cấy
vào đó niềm tin tôn giáo phương Tây. Từ mấu chốt này chúng ta sẽ lần ra
toàn bộ vấn đề.
Chúng
ta đã thấy những trang web, trang blog mở ra chỉ để nhằm mục tiêu bài
xích, công kích Phật giáo. Đó là những bộ phận của cổ máy cải đạo tín đồ
Phật giáo Việt Nam. Nhưng để viết bài trên web, blog, tuy có thể viết
sai ngữ pháp, đầy lỗi chính tả, giọng văn thấp thỏi quê kệch nhưng để
viết thành bài, không thể dùng đến những thành phần hạ lưu, thất học,
chỉ biết chửi thề, nói tục. Không thể làm web, blog bài xích Phật giáo
chỉ với lòng thù hằn, phục hận tôn giáo, mà cần tối thiểu một trình độ
học thức nhất định, không có chỗ cho nhưng Diemist hạ lưu, cục súc, lổ
mảng, thất học.
Những
Diemist cục súc, hạ đẳng phải chờ đến thế hệ truyền thông sau web,
blog, là facebook, mới có thể nhảy lên vũ đài tấn công Phật giáo.
Diemist Nguyễn Đức Hiệp là một trong những trường hợp như vậy.
Với
tính chất cá nhân hóa của facebook, thì người làm truyền thông không
còn cần đến lời lẽ. Vài cái hình, không xác định rõ ràng xuất xứ, vài
câu bình luận loại hè phố, vài câu chửi thề, văng tục là có thể làm
thành một đơn vị facebook, đành tạm gọi là “bài”, dù từ bài không thích
hợp với loại đơn vị như thế của facebook.
Sau
khi khái quát vấn đề như thế, ứng dụng lý giải trường hợp của Diemist
Nguyễn Đức Hiệp thì chúng ta thấy rõ những đặc trưng như thế. Nguyễn Đức
Hiệp là Diemist tham gia vào công đoạn đầu tiên cải đạo tín đồ Phật
giáo với phương tiện thích hợp với trình độ hạ lưu của anh ta, môi
trường để anh ta bài xích, công kích Phật giáo Việt Nam bằng cách thức
thô bỉ, tục tằn, dơ bẩn nhất.
Chúng
ta đừng nghĩ là cách làm như thế là vô dụng, vô giá trị. Cách trình bày
đơn sơ cũng có lợi thế nhất định của nó, cũng như thích hợp với một số
đối tượng. Điều trước tiên là nó mang đến cho những Diemist hạ lưu, vô
học, vô văn hóa một không gian hoạt động. Từ đó, chúng biến mỗi bài
facebook thành những ca phê đấu tu sĩ Phật giáo nho nhỏ. Chỉ cần vậy là
hoàn tất công đoạn mà chúng được giao phó nhiệm vụ.
Hạ
cấp, đơn giản, thô sơ chỉ cần vài tấm hình, vài câu chửi là thành bài,
nên loại như Diemist Nguyễn Đức Hiệp cứ tha hồ sản xuất đều đều những
bài như thế, hầu như không có giới hạn về ý tưởng, ngôn ngữ. Đề tài như
vậy cứ được xào nấu lại, chỉ cốt làm sao gây tôn thương hình ảnh tu sĩ
Phật giáo, mở đường cho việc cải đạo đến mức nào hay mức đó.
Đây
cũng là cách triệt hạ ảnh hưởng Phật giáo Việt Nam phục vụ mục tiêu cải
đạo một cách rẻ tiền nhất. Vì người đứng ra nhận thuê mướn không cần
trình độ, chỉ cần bạo miệng chửi thề, nói tục là có sản phẩm.
Tác
động và hệ quả mà facebook đem đến hiện nay vẫn là điều chưa được biết
đến đầy đủ. Không thể xem facebook là một thứ mini blog, vì facebook có
phương thức kết nối riêng, có thể có sức lan truyền rất rộng rãi, tùy ở
người sử dụng. Việc các nhà lãnh đạo Phật giáo, các phương tiện thông
tin chính thức của Phật giáo Việt Nam làm ngơ trước luồng truyền thông
bài Phật giáo Việt Nam trên mạng internet theo tôi, không thể là giải
pháp hay. Làm như không biết đến không có nghĩa là những cách thức cải
đạo, phá hoại niềm tin Phật pháp như thế hoàn toàn không có tác dụng gì
hết.
Vấn đề không
phải ở Nguyễn Đức Hiệp hay những kẻ tương tự trên facebook mà vấn đề nằm
ở chỗ những người đứng đàng sau Nguyễn Đức Hiệp, nhưng kẻ phân công
Nguyễn Đức Hiệp vào vị trí mở đường đánh phá niềm tin Phật giáo. Bạn đọc
phật tử chúng ta cần thấy ngọn nguồn của vấn đề, hiểu được quy trình và
phản ứng có hiệu quả.
Nhận
thức đúng bản chất sự việc đã là một cách phản ứng hiệu quả. Cần nhận
ra rằng không có “Phật bút”, “Hộ pháp” nào hết, mà chính là những thế
lực muốn cải đạo tín đồ Phật giáo giả danh được phân công để bôi bẩn hầu
như tất cả tu sĩ tín đồ Phật giáo, mở đường để những người trực tiếp
đến cải đạo làm những việc tiếp theo. Trong đó, Diemist Nguyễn Đức Hiệp
là một trường hợp khá tiêu biểu, có thể làm mẫu vật để nhận diện những
trường hợp còn lại.
Minh Thạnh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét